Chào mừng quý vị đến với website của Trường Tiểu học Đông Yên 2.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Kết luận hội nghị lần thứ bà của BCH TW khóa XI
KẾT LUẬN
HỘI NGHỊ LẦN THỨ BA
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHÓA XI
về tình hình kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước 5 năm 2006-2010 và năm 2011; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước 5 năm 2011 - 2015 và năm 2012
(Kết luận số 10-KL/TW, ngày 18-10-2011)
_______
Ban Chấp hành Trung ương Đảng tán thành cơ bản nội dung do Ban cán sự đảng Chính phủ trình bày về tình hình kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước 5 năm 2006-2010 và năm 2011; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước 5 năm 2011-2015 và năm 2012. Ban Chấp hành Trung ương bổ sung, nhấn mạnh một số điểm sau đây:
1. Về tình hình, nguyên nhân và xu hướng phát triển
1.1- Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, ứng phó có kết quả với những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế thế giới và trong nước, đạt được nhiều thành tựu quan trọng; duy trì mức tăng trưởng kinh tế khá (bình quân 7%/năm), GDP năm 2010 gấp 2 lần năm 2000; nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh; phát huy dân chủ có tiến bộ; khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố. Đã hoàn thành hầu hết các mục tiêu thiên niên kỷ cam kết với quốc tế. Chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, vị thế, uy tín của nước ta được nâng cao.
Tuy nhiên, do những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước nên một số chỉ tiêu, nhiệm vụ Đại hội X đề ra chưa đạt. Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm; chế độ phân phối chưa hợp lý, phân hóa giàu nghèo tăng lên. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm yếu cản trở sự phát triển. Công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chuyển biến chậm. Còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội.
1.2- Từ đầu năm 2011, tình hình trong nước và thế giới đã xuất hiện nhiều khó khăn, thách sức mới, song với sự nỗ lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong việc triển khai thực hiện Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 59/2011/QH12 của Quốc hội và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, đã đạt được một số kết quả bước đầu quan trọng. Tốc độ tăng GDP chín tháng đầu năm 2011 đạt 5,76%; cả năm ước đạt 6%. Sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện, đạt mức kỷ lục về sản lượng lương thực và xuất khẩu gạo. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá. Khu vực dịch vụ có bước phát triển. Chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng giảm dần; thu ngân sách và xuất khẩu tăng cao; bội chi ngân sách và nhập siêu giảm; thị trường ngoại hối từng bước ổn định; dự trữ ngoại tệ và cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện. Lao động, việc làm, thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo có nhiều cố gắng và đạt kết quả tích cực. Các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hoá thông tin có tiến bộ. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; quốc phòng được tăng cường, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
Tuy vậy, một số chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 chưa hoàn thành, nhất là mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Đến nay, nền kinh tế nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức. Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định; lạm phát còn ở mức cao; dự trữ ngoại tệ mỏng, áp lực đối với tỉ giá còn lớn; thanh khoản của một số ngân hàng thương mại còn yếu, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản giảm sút, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn. Việc triển khai thực hiện chủ trương của Đại hội XI về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế còn chậm.
Đời sống của nhân dân, nhất là người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội, người lao động ở các đô thị, khu công nghiệp, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số gặp khó khăn. Lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, thể thao còn nhiều bất cập. Tai nạn và ùn tắc giao thông chưa giảm. Khiếu kiện đông người, đình công xảy ra ở nhiều nơi; số vụ phạm tội, tệ nạn xã hội gia tăng; công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn hạn chế, yếu kém trên một số mặt.
1.3- Tình hình trên có nguyên nhân khách quan là do tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; nguyên nhân chủ quan là do yếu kém của nội tại nền kinh tế với mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả, tích tụ, kéo dài từ lâu, chậm được khắc phục và do những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của các cấp, các ngành; đặc biệt là trong điều hành chính sách tiền tệ, tài khoá; quản lý quy hoạch, đầu tư, đất đai, tài nguyên; quản lý thị trường...
1.4- Bước vào năm 2012 và kế hoạch 5 năm, nước ta có những thuận lợi cơ bản là những thành tựu to lớn của 25 năm đổi mới, của 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và kế hoạch 5 năm 2006 - 2010. Trong bối cảnh khó khăn chung của thế giới hiện nay, nước ta vẫn có thể nắm bắt, phát huy những tiềm năng, lợi thế của một nước đi sau, đang trong quá trình công nghiệp hóa với nền nông nghiệp giàu tiềm năng sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản; có điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư nước ngoài và thị trường tiêu thụ nội địa phát triển nhanh... Tuy nhiên dự báo về tình hình năm 2012 và một số năm tiếp theo, tình hình khủng hoảng nợ công và lạm phát tăng cao ở nhiều nước không chỉ làm chậm quá trình phục hồi kinh tế thế giới trong năm 2011 mà còn tiếp tục gây khó khăn, thậm chí có nguy cơ đẩy kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái mới. Do vậy, năm 2012 vẫn là năm có nhiều khó khăn, thách thức đối với nền kinh tế nước ta, nhất là trước yêu cầu khắc phục những yếu kém của nền kinh tế và đổi mới, phát triển ở tầm cao mới, chiến lược mới.
2. Về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và định hướng mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu
2.1- Về quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo phải nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng cao và ổn định kinh tế vĩ mô; giữa kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội; giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Trong quản lý, điều hành, cần phấn đấu để đạt kết quả toàn diện, song tuỳ tình hình mà sắp xếp thứ tự ưu tiên sao cho hợp lý nhất. Trong năm 2012 và những năm tiếp theo, tiếp tục thực hiện Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị, ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao hơn ở những năm cuối của kế hoạch 5 năm.
Để ứng phó với tình hình trong nước, thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, đi đôi với việc nâng cao năng lực phân tích, dự báo, cần phát huy tốt hơn nữa vai trò của Nhà nước trong kiến tạo, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên cơ sở tôn trọng, vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường, xem nhu cầu thị trường, cơ chế thị trường và hiệu quả, lợi ích là căn cứ chính để quyết định việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển; đồng thời có biện pháp tích cực ngăn ngừa và khắc phục những hạn chế, mặt trái của cơ chế thị trường. Ưu tiên huy động và phân bổ nguồn lực bảo đảm thực hiện thành công ba khâu đột phá chiến lược mà Đại hội XI đã xác định; chú trọng phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; phát triển văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và chủ động ứng phó với thiên tai, dịch bệnh, nước biển dâng do biến đổi khí hậu toàn cầu.
2.2- Mục tiêu tổng quát của 5 năm 2011-2015 là: Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tăng cường hoạt động đối ngoại và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và trật tự an toàn xã hội. Tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Mục tiêu của năm 2012 là: Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.
2.3- Trên cơ sở mục tiêu tổng quát đó và để phù hợp với tình hình thực tế, định hướng các chỉ tiêu chủ yếu như sau: Tốc độc tăng trưởng GDP bình quân 5 năm 2011 - 2015 khoảng 6,5 - 7%/năm; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng đến năm 2015 giảm còn khoảng 5 - 7%; bội chi ngân sách nhà nước dưới 4,5% GDP; nợ công dưới 65% GDP; nhập siêu khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu. Hằng năm, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định phương án tăng trưởng cụ thể với một số chỉ tiêu chủ yếu tương ứng về tốc độ tăng trưởng, mức lạm phát, bội chi ngân sách, nợ công, nhập siêu, dự trữ ngoại tệ.
Năm 2012, tốc độc tăng trưởng GDP khoảng 6 - 6,5%; chỉ số giá tiêu dùng tăng dưới 10%, bội chi ngân sách nhà nước dưới 4,8% GDP, nhập siêu 11 - 12% kim ngạch xuất khẩu. Trong mọi trường hợp, phải cố gắng bảo đảm thực hiện các mục tiêu xã hội như: tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, giảm tỉ lệ hộ nghèo, bảo đảm an sinh xã hội...
3. Về định hướng các giải pháp chủ yếu
3.1- Tất cả các chính sách, biện pháp phải tập trung phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, khẩn trương khắc phục những nguyên nhân gây trở ngại cho sự phát triển bền vững, nhất là nguyên nhân chủ quan, do lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành. Trong năm 2012, cần tiếp tục thực hiện tốt hơn các mục tiêu, chính sách và biện pháp nêu trong Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ. Trước hết, thực hiện chính sách tiền tệ, tài khoá đồng bộ, chặt chẽ; thực hiện nghiêm việc cắt giảm và quản lý tốt đầu tư công; tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ có chọn lọc cho những ngành, lĩnh vực quan trọng và các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có lợi thế cạnh tranh. Trong 5 năm tới, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện tốt 11 nhóm nhiệm vụ và giải pháp nêu trong tờ trình của Ban cán sự đảng Chính phủ. Đặc biệt là các định hướng giải pháp nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.
3.2- Cơ cấu lại nền kinh tế phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phải được thực hiện đồng bộ trong tất cả các ngành, các lĩnh vực trên phạm vi cả nước và từng địa phương, đơn vị cơ sở trong nhiều năm. Trong 5 năm tới, cần tập trung vào ba lĩnh vực quan trọng nhất: Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; tái cơ cấu doanh nghiệp trong nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước.
Về tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công, cần tiếp tục đổi mới tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả nhất, theo thứ tự ưu tiên hợp lý nhất các nguồn lực Nhà nước và xã hội, nội lực và ngoại lực cho đầu tư phát triển theo quy hoạch. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư phải có tầm nhìn xa, không bị “tư duy nhiệm kỳ”, tư tưởng cục bộ, bệnh thành tích, chủ quan duy ý chí hay “lợi ích nhóm” chi phối. Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm 2011 - 2015 phải cụ thể hóa được những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ do Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đề ra và gắn kết chặt chẽ với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ phù hợp với tình hình đất nước và thế giới trong từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, cần khẩn trương soát xét, điều chỉnh pháp luật, chính sách và cơ chế quản lý đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng; đặc biệt là vấn đề phân cấp quản lý nhà nước về thu, chi ngân sách và đầu tư. Khẩn trương xác định các tiêu chí và thứ tự ưu tiên làm căn cứ để phê duyệt hay từ chối hoặc cắt giảm các dự án đầu tư, nhất là dự án đầu tư công. Khắc phục tình trạng phát triển quá nhiều các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khai thác quá mức tài nguyên, khoáng sản; tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án vượt khả năng nguồn lực hiện có, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra nhiều nằm, dẫn đến đầu tư dàn trải, kéo dài thời gian thi công, nợ xây dựng cơ bản lớn, gây lãng phí, thất thoát, hiệu quả thấp.
Nội dung của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải tính toán đầy đủ đến kế hoạch huy động vốn phát triển nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ; đồng thời phải bao gồm đồng bộ các chính sách, biện pháp cụ thể, có tính khả thi, bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Để tái cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, cần đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường vàng và ngoại tệ, khắc phục tình trạng đôla hoá; kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước, vay trả nợ nước ngoài, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán và các nguồn vốn nóng khác. Từng bước giảm tỷ lệ cung cấp vốn cho đầu tư phát triển từ hệ thống ngân hàng thương mại; nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ ngân hàng. Cấu trúc lại hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính theo hướng giảm số lượng; giảm nhanh số lượng ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính yếu kém; sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính nhỏ... để có số lượng phù hợp các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính có quy mô và uy tín, hoạt động lành mạnh, bảo đảm tính thanh khoản và an toàn hệ thống.
Trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, phải quán triệt thực hiện nghiêm túc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đã được xác định trong các nghị quyết của Đảng. Kiên quyết chấm dứt tình trạng các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đầu tư dàn trải ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015. Tập trung phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những ngành, lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ công, ổn định kinh tế vĩ mô. Hoàn thiện thể chế quản lý doanh nghiệp nhà nước, thực hiện quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước đối với vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp, bảo đảm công khai, minh bạch về tài chính. Đổi mới quản trị và cơ chế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo hướng chuyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Đối với mỗi tập đoàn, tổng công ty nhà nước, cần xây dựng đề án tái cấu trúc và phương án nhân sự lãnh đạo chủ chốt phù hợp, có tính đến việc thuê tổng giám đốc là người nước ngoài trong trường hợp thực sự cần thiết và có hiệu quả.
3.3- Trong suốt quá trình phát triển, phải luôn quan tâm thực hiện các định hướng chính sách, biện pháp bảo đảm an ninh lương thực gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và bảo đảm an ninh năng lượng.
Để đảm bảo an ninh lương thực gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; kiên quyết giữ 3,8 triệu hécta đất trồng lúa, có chính sách điều tiết ngân sách hợp lý với từng vùng đồng bằng, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long để các vùng này chuyên tâm sản xuất, chế biến lúa gạo và các hàng nông sản, thực phẩm khác, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp công nghệ cao, quy mô lớn, chất lượng cao đối với một số sản phẩm có lợi thế nhằm hình thành các vùng chuyên canh. Đồng thời, chủ động, tích cực chuẩn bị đối phó có hiệu quả với nguy cơ nước biển dâng và thiên tai, dịch bệnh do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu; tăng cường các chính sách, biện pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường nhất là chính sách trồng và bảo vệ rừng, khai thác sử dụng tài nguyên nước. Chấm dứt tình trạng khai thác quá đáng, làm cạn kiệt tài nguyên, gây hại cho môi trường. Kiểm soát chặt chẽ việc xử lý chất thải công nghiệp, đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.
Bảo đảm an ninh năng lượng trên cơ sở đẩy mạnh huy động mọi nguồn lực phát triển nguồn cung theo đúng sơ đồ tổng thể quy hoạch phát triển hệ thống điện lực Việt Nam và chiến lược phát triển ngành dầu khí, ngành than đến năm 2020; đồng thời, kiểm soát có hiệu quả các nhu cầu sử dụng năng lượng, tăng cường các biện pháp tiết kiệm điện gắn với lộ trình chuyển sang áp dụng giá thị trường đối với điện, than và xăng dầu.
3.4- Đi đôi với phát triển kinh tế, cần quan tâm đến thực hiện các mục tiêu xã hội. Áp dụng đồng bộ các chính sách, biện pháp phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, xoá đói, giảm nghèo, giảm chênh lệch giàu nghèo, giải quyết các bức xúc của nhân dân.
Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quan tâm đến nhân lực lãnh đạo, quản lý, quản trị doanh nghiệp, khoa học - công nghệ, văn hoá nghệ thuật; nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là bậc đại học; tập trung chuyển từ đào tạo chiều rộng sang chiều sâu, quan tâm đặc biệt đến đào tạo nghề; điều chỉnh chính sách về giáo dục mầm non, giáo dục miền núi; làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để đảm bảo nhu cầu học tập của các đối tượng, nhất là giáo dục mầm non.
Đẩy mạnh đầu tư phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới căn bản cơ chế quản lý khoa học - công nghệ, phát triển kinh tế tri thức. Quan tâm phát triển mạnh mẽ công tác nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ, gắn khoa học - công nghệ với sản xuất trong tất cả các ngành và lĩnh vực; phát triển mạnh thị trường khoa học, công nghệ.
Có chính sách tạo đột phá giảm nghèo bền vững, tạo môi trường thuận lợi cho người nghèo phát huy nội lực vươn lên thoát nghèo. Huy động các nguồn lực xã hội cho công tác giảm nghèo; có giải pháp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc.
Củng cố và xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, phong phú, đa dạng, tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hoá ở các cấp; đồng thời, cải tạo, nâng cấp và đầu tư xây dựng mới một số công trình văn hoá nghệ thuật, thể dục, thể thao hiện đại.
3.5- Quan tâm củng cố an ninh, quốc phòng, đối ngoại vững mạnh, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; không ngừng nâng cao vị trí, uy tín đất nước trên trường quốc tế. Tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trong nhân dân, nhất là trong việc giải tỏa đền bù, thu hồi đất và những tiêu cực trong giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; củng cố niềm tin trong nhân dân.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tăng cường hơn nữa việc bảo đảm thực thi nghiêm chỉnh luật pháp, xử lý nghiêm và kịp thời những sai phạm; khẩn trương bổ sung những văn bản pháp luật mới để từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy của Chính phủ và chính quyền đô thị, nhất là ở những thành phố lớn. Siết chặt trật tự kỷ cương, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đẩy lùi tệ nạn, tiêu cực, tai nạn giao thông; phòng, chống các loại tội phạm.
4. Tổ chức thực hiện
Ban cán sự đảng Chính phủ, Đảng đoàn Quốc hội căn cứ Kết luận này hoàn chỉnh các báo cáo, dự thảo kế hoạch để trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Cấp ủy, chính quyền, mặt trận và đoàn thể các cấp xây dựng các chương trình hành động cụ thể thực hiện Kết luận này và quyết định của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách 5 năm 2011 - 2015 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách năm 2012./-
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 3 (khoá XI) về tình hình kinh
tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước 5 năm 2006 - 2010 và 2011;
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân
sách nhà nước 5 năm 2011 - 2015 và 2012
(Chương trình hành động số 14-CTr/TU, ngày 12 -01 - 2012)
______
Thực hiện Kết luận số 10-KL/TW, ngày 18-10-2011 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương về tình hình kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước 5 năm 2006 - 2010 và năm 2011; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước 5 năm 2011 - 2015 và năm 2012. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xây dựng chương trình hành động thực hiện với những nội dung chủ yếu như sau:
I. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI,
TÀI CHÍNH-NGÂN SÁCH 5 NĂM 2006 - 2010 VÀ 2011
Trong 5 năm qua thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh về phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh có nhiều khó khăn, Đảng bộ và quân dân trong tỉnh đã có nhiều cố gắng, nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tích quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực. Nhiều mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu đạt và vượt kế hoạch đề ra; duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá; huy động vốn đầu tư phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được tăng cường. Đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của tỉnh giai đoạn 2006-2010. Các lĩnh vực văn hoá-xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, chất lượng giáo dục-đào tạo, nguồn nhân lực, đời sống nhân dân được nâng lên, hộ nghèo giảm, thực hiện tốt các chính sách đảm bảo an sinh xã hội. Quốc phòng-an ninh được giữ vững; công tác đối ngoại được mở rộng và có hiệu quả. Tổ chức, bộ máy chính quyền các cấp được kiện toàn.
Tuy nhiên, kinh tế phát triển chưa vững chắc, thiếu đồng bộ và chưa đi vào chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp. Tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không đạt mục tiêu đề ra; một số lĩnh vực có tiềm năng thế mạnh như thủy sản, du lịch, kinh tế biển... nhưng khai thác, phát triển chưa tương xứng; nhiều chương trình, dự án trọng điểm triển khai chậm, do không bố trí được nguồn vốn. Sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Đời sống một bộ phận nhân dân vùng nông thôn sâu, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc Khmer vẫn còn nghèo và nhiều khó khăn. Tình hình an ninh trên biển, biên giới, tranh chấp khiếu kiện trong nhân dân từng lúc, từng nơi diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định; một số tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông đang là những vấn đề bức xúc. Hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp nâng lên chậm.
Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu, thiên tai, dịch bệnh, lạm phát cao; là tỉnh ở xa các trung tâm kinh tế lớn của đất nước. Nhưng nguyên nhân chủ quan chủ yếu là: Trước hết do năng lực lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp còn hạn chế, chưa bám sát những nhiệm vụ trọng tâm đã xác định và chỉ đạo tổ chức thực hiện thiếu quyết liệt; điều hành, quản lý về quy hoạch, đầu tư, đất đai, tài nguyên... trên một số mặt còn yếu kém.
II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
KINH TẾ-XÃ HỘI, TÀI CHÍNH-NGÂN SÁCH
5 NĂM 2011-2015 VÀ 2012
1- Dự báo tình hình
Trong 5 năm tới tình hình tiếp tục có những thuận lợi, thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng Trung ương sẽ có nhiều chủ trương, giải pháp thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển. Những thành tích, tiến bộ đạt được trong 5 năm qua của tỉnh và tình hình chính trị-xã hội ổn định, là những nhân tố quan trọng tạo tiền đề cho sự phát triển những năm tiếp theo. Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ được Trung ương quan tâm đầu tư nhiều hơn.
Tuy nhiên, kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều nhân tố tác động tiêu cực đến kinh tế nước ta và của tỉnh. Tình hình lạm phát cao, dịch bệnh, thiên tai, khiếu kiện trong nhân dân... từng lúc, từng nơi còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tăng cường hoạt động “diễn biến hoà bình” chống phá ta trên nhiều lĩnh vực, nhất là về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo.
2- Mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu
- Mục tiêu tổng quát: Tập trung khai thác tốt tiềm năng thế mạnh, phát triển nhanh và bền vững; đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Củng cố quốc phòng-an ninh vững chắc, tăng cường công tác đối ngoại. Phấn đấu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh đạt mức khá trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và trung bình khá trong cả nước.
- Một số chỉ tiêu chủ yếu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 2011-2015 đạt 13%/năm trở lên. Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng năm 2015 thấp hơn bình quân chung cả nước (từ 5-7%). Năm 2015 thu ngân sách gấp 2 lần trở lên so năm 2010; nợ ngân sách tỉnh (nợ vay) chiếm 0,84% GDP. Tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giai đoạn 2011-2015 khoảng 170 ngàn tỷ đồng. Tốc độ đổi mới công nghệ ở các lĩnh vực bình quân 20%/năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2015 đạt 52%, trong đó đào tạo nghề trên 43%.
3- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
3.1- Tiếp tục thực hiện tốt các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
Năm 2012, tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, tạo tiền đề quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2015, trong đó chú ý một số nhiệm vụ trọng tâm: (1) tăng cường giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng của các ngân hàng trên địa bàn, bảo đảm tăng tổng phương tiện thanh toán, tăng trưởng tín dụng, lãi suất huy động không vượt quá mức quy định để kiểm soát lạm phát. (2) tiếp tục thực hiện chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên; kiểm soát đầu tư công, rà soát sắp xếp ưu tiên vốn cho các chương trình, dự án trọng điểm, cắt giảm các công trình mới chưa thật cấp bách, giám sát chặt chẽ các khoản nợ vay xây dựng cơ bản, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. (3) tập trung tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. (4) tăng cường công tác quản lý nhà nước về giá, ngăn chặn và kiên quyết xử lý các hành vi tăng giá bất hợp lý.
3.2- Huy động các nguồn lực thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh
Tập trung đổi mới mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên, lao động chất lượng thấp sang dựa vào năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, kỹ năng quản lý hiện đại; tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm sau:
- Điều chỉnh cơ cấu đầu tư công theo hướng giảm dần tỷ trọng và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, tăng cường huy động các nguồn vốn khác cho phát triển. Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt các vấn đề sau: (1) việc phân bổ vốn đầu tư phải gắn kết chặt chẽ với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, của từng ngành, từng vùng nhằm đảm bảo đầu tư tập trung, không dàn trải và gây lãng phí. (2) tiếp tục hoàn chỉnh phân cấp quản lý đầu tư và kiểm soát chặt chẽ vốn đầu tư ngân sách nhà nước, trước hết xây dựng và ban hành nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư; quản lý thống nhất danh mục các chương trình, dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn vay...; đối với các dự án, công trình đầu tư mới phải xác định rõ mục tiêu, quy mô, hiệu quả đầu tư và khả năng cân đối nguồn vốn trước khi quyết định đầu tư; kiên quyết từ chối hoặc cắt giảm các dự án đầu tư vượt khả năng nguồn lực hiện có, đầu tư kéo dài, gây thất thoát, lãng phí. (3) đẩy mạnh công tác xã hội hoá huy động các nguồn vốn đầu tư, trên cơ sở vận dụng xây dựng đồng bộ các cơ chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi phù hợp, cải cách thủ tục hành chính tạo môi trường thuận lợi để thu hút mạnh đầu tư, nhất là các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế của tỉnh.
Khẩn trương xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch huy động vốn đầu tư phát triển cho cả giai đoạn 2011-2015 (khoảng 170.000 tỷ đồng), trong đó vốn ngân sách nhà nước chiếm khoảng 19%, phần vốn còn lại cần đa dạng hoá các hình thức huy động, chú ý hình thức tạo vốn từ quỹ đất, xã hội hoá...; ưu tiên cân đối nguồn vốn để thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm theo Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ tỉnh, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là về giao thông.
- Phát triển và nâng cao chất lượng tín dụng của các ngân hàng, tổ chức tín dụng. Phối hợp tiến hành rà soát, đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của các chi nhánh ngân hàng thương mại, ngân hàng cổ phần, quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn, trên cơ sở đó triển khai thực hiện tái cơ cấu ngân hàng, tổ chức tín dụng theo đề án, định hướng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Kiểm soát chặt chẽ nợ xấu, bảo đảm thanh khoản và an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại. Tạo điều kiện phát triển và quản lý chặt chẽ hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích, phù hợp với trình độ, năng lực quản lý.
- Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, cổ phần hoá và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước của tỉnh. Tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nhà nước, xem xét việc tiếp tục giữ vốn nhà nước tại doanh nghiệp hoặc tiến hành thoái vốn; đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp khác như góp vốn thành lập doanh nghiệp, mua cổ phần, góp vốn tham gia thực hiện các dự án đầu tư... Triển khai thực hiện kế hoạch cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của tỉnh giai đoạn 2011-2015 (dự kiến cổ phần hoá thêm 02 công ty, trong đó 01 công ty giữ vốn nhà nước trên 50%, 01 công ty vốn nhà nước dưới 50%). Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về quyền đại diện chủ sở hữu và người quản lý trong doanh nghiệp có vốn nhà nước, về cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại doanh nghiệp. Xây dựng một số doanh nghiệp và sản phẩm có thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước.
- Tập trung khai thác, phát huy có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế. Tiếp tục đầu tư và phát huy tiềm năng, thế mạnh về nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, nhất là các sản phẩm có lợi thế như lúa, tôm, cá, gia súc, gia cầm, trái cây...; xây dựng thương hiệu cho một số sản phẩm chủ lực như lúa gạo, tôm. Giữ diện tích đất sản xuất lúa đến năm 2015 khoảng 351.000ha, phấn đấu đạt sản lượng lương thực từ 4 triệu tấn trở lên, góp phần đảm bảo an ninh lương thực. Tập trung phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo chiều sâu, đảm bảo sạch, sinh thái, các sản phẩm có giá trị kinh tế cao; hình thành các vùng sản xuất tập trung như vùng sản xuất lúa chất lượng cao, vùng nuôi tôm công nghiệp, vùng cây công nghiệp... phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu; gắn kết chặt chẽ giữa các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo lợi ích của người nông dân. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nhất là công nghệ sinh học tạo ra giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao. Tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, đê bao, điện, giao thông... phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Tập trung phát triển mạnh kinh tế biển, nhất là các lĩnh vực có lợi thế như thủy sản, du lịch biển đảo, dịch vụ nghề cá, vận tải biển... Tập trung đầu tư phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng (cảng biển, cảng hàng không, đường giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin, hạ tầng xã hội...) vùng ven biển và trên một số đảo để tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, gắn với bảo vệ vững chắc an ninh, chủ quyền vùng biển đảo. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch nuôi trồng thủy sản ven biển, quanh các đảo; khuyến khích và tạo điều kiện nuôi trồng các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao phục vụ xuất khẩu và du lịch. Tăng cường quản lý và bảo vệ ngư trường, môi trường biển, ngăn chặn tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn lợi hải sản và ô nhiễm môi trường biển. Tập trung xây dựng đảo Phú Quốc từng bước trở thành trung tâm du lịch sinh thái chất lượng cao và kinh tế biển theo quy hoạch phê duyệt.
Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, ưu tiên đầu tư phát triển 4 vùng du lịch trọng điểm: Phú Quốc, Hà Tiên-Kiên Lương, Rạch Giá-Hòn Đất-Kiên Hải và vùng U Minh Thượng. Chú trọng thực hiện tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch về du lịch; khẩn trương đầu tư xây dựng đồng bộ, hoàn chỉnh hệ thống kết cầu hạ tầng kỹ thuật ở các vùng, khu du lịch trọng điểm để tạo điều kiện khai thác, phát huy tiềm năng du lịch, quan tâm đầu tư và phát triển du lịch các đảo ở Kiên Hải, Kiên Lương và Hà Tiên; đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá về du lịch trong và ngoài nước, xây dựng “Thương hiệu và sản phẩm du lịch đặc thù Kiên Giang”; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác du lịch.
Chú trọng phát triển các ngành thương mại-dịch vụ phục vụ khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Khuyến khích, tạo điều kiện phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm...; chú trọng phát triển các dịch vụ mới như chứng khoán, hàng hải.
Tập trung phát triển các ngành công nghiệp với công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, nhất là công nghiệp chế biến nông thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, cơ khí... Khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp đổi mới công nghệ, chuyên môn hoá quy trình sản xuất, tăng tỷ lệ sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giảm sản phẩm chế biến thô; hình thành hệ thống liên kết chặt chẽ từ khâu sản xuất, chế biến, đến tiêu thụ. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp theo quy hoạch, trong đó phấn đấu năm 2015 hoàn thành 2 khu công nghiệp tập trung Thạnh Lộc, Thuận Yên; hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các dự án đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp.
3.3- Đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ tập trung cho các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến, dịch vụ và quản lý... Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh đối với các sản phẩm chủ lực có lợi thế; hỗ trợ xây dựng thương hiệu, đăng ký chất lượng hàng hoá, xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước, đồng thời thực hiện tốt xã hội hóa đối với hoạt động khoa học công nghệ. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ trí thức, khoa học và công nghệ; phát huy tốt vai trò của Liên hiệp Các Hội khoa học-Kỹ thuật trong nghiên cứu, tư vấn, phản biện xã hội.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ và nhân dân về bảo vệ môi trường. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đưa nội dung bảo vệ môi trường vào các quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án đầu tư; quy định chặt chẽ việc thẩm định, luận chứng, đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư; có biện pháp ngăn ngừa và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường, khai thác tài nguyên không theo đúng quy hoạch. Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải, nước thải, thoát nước cho các khu cụm công nghiệp, du lịch, đô thị, dân cư tập trung, bệnh viện, cơ sở chế biến, khai thác tài nguyên... Chú trọng bảo vệ tốt các loại rừng, môi trường biển, sinh thái. Chủ động xây dựng chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng. Chú trọng quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý, có hiệu quả, đúng pháp luật.
3.4- Chú trọng phát triển giáo dục-đào tạo, nguồn nhân lực, văn hoá và đảm bảo an sinh xã hội
Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu về chất lượng, khắc phục tình trạng vừa thừa, vừa thiếu giáo viên ở các cấp học; đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, quan tâm giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng nhân cách, đạo đức, lối sống, kỹ năng thực hành cho học sinh. Tiến hành điều chỉnh quy hoạch mạng lưới trường lớp trên địa bàn, sắp xếp giảm dần các điểm trường lẻ. Tiếp tục tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học theo hướng chuẩn hóa, từng bước hiện đại hóa, gắn với đẩy mạnh thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp, xây dựng nhà công vụ cho giáo viên; chú trọng xây dựng và phát triển các trường trọng điểm, trường đạt chuẩn quốc gia, đầu tư phát triển hệ thống trường mẫu giáo.
Đẩy mạnh phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Triển khai thực hiện tốt các chương trình, đề án đào tạo sau đại học trong và ngoài nước giai đoạn 2010-2015, tập trung cho các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Tăng cường đào tạo nghề cho lao động từng bước đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, xuất khẩu lao động, các khu công nghiệp, khu du lịch trên địa bàn... gắn đào tạo với phát triển các cơ sở sản xuất-kinh doanh, dịch vụ để giải quyết việc làm và hướng dẫn, tư vấn việc làm cho lao động đã qua đào tạo, sinh viên tốt nghiệp ra trường. Tiến hành sắp xếp lại hệ thống các trường đào tạo trên địa bàn tỉnh, trước hết thành lập Trường Đại học Kiên Giang; sắp xếp, đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường nhân lực cho trường cao đẳng, trung cấp, trung tâm dạy nghề ở các vùng. Khuyến khích các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tuyển dụng lao động tại địa phương và khuyến khích người lao động có tay nghề tự tạo việc làm.
Tiếp tục chỉ đạo thực hiện có hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình hạnh phúc, đẩy lùi tệ nạn xã hội, văn hoá phẩm độc hại ở từng địa bàn, khu dân cư. Xây dựng quy chế hoạt động của các trung tâm văn hoá-thể thao ở cấp huyện và cấp xã, đảm bảo các trung tâm hoạt động có chất lượng, hiệu quả; tiếp tục phân kỳ đầu tư xây dựng các trung tâm văn hóa-thể thao cấp xã, cấp huyện; khuyến khích, kêu gọi các nhà đầu tư (xã hội hoá) cùng tham gia đầu tư, khai thác và sử dụng các trung tâm văn hóa-thể thao.
Tích cực huy động các nguồn lực trong xã hội để thực hiện tốt hơn chính sách an sinh xã hội, nhất là chăm lo cho các đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội. Thực hiện tốt chính sách về lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp... Có kế hoạch xây dựng nhà ở cho công nhân, người lao động, người có thu nhập thấp ở nơi tập trung đông công nhân và các đô thị.
Triển khai thực hiện tốt chương trình quốc gia về giảm nghèo, tập trung chỉ đạo đối với các địa phương có tỷ lệ hộ nghèo còn cao, vùng đồng bào dân tộc Khmer, có giải pháp giảm nghèo bền vững. Phối hợp, lồng ghép các nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, địa phương và vận động các tổ chức xã hội, nhân đạo, từ thiện, các nguồn lực trong xã hội để hỗ trợ, giúp đỡ các hộ nghèo, vùng nghèo. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục các hộ nghèo có ý thức tự phấn đấu quyết tâm vươn lên, chịu khó làm ăn, cần kiệm trong sinh hoạt. Các đoàn thể chính trị-xã hội thường xuyên quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ hộ nghèo thuộc đối tượng vận động của mình; xây dựng và nhân rộng các mô hình thoát nghèo có hiệu quả.
3.5- Tăng cường củng cố quốc phòng-an ninh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại
Tăng cường giáo dục chính trị, huấn luyện diễn tập khu vực phòng thủ và bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội với nhiệm vụ quốc phòng-an ninh trên các địa bàn trọng điểm ngay từ khâu quy hoạch, xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, dự án đầu tư. Thực hiện có hiệu quả các giải pháp đảm bảo an ninh biên giới, vùng biển, hải đảo, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Thường xuyên giáo dục cán bộ và nhân dân nâng cao cảnh giác, chủ động phát hiện và đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh quốc gia trong mọi tình huống.
Triển khai thực hiện có hiệu quả chiến lược quốc gia về phòng chống tội phạm. Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở cơ sở. Thực hiện đồng bộ các giải pháp kiềm chế và giảm dần tai nạn giao thông. Tích cực phòng, chống các tệ nạn xã hội.
Tăng cường quan hệ đối ngoại với các nước trong khu vực, các tỉnh giáp biên Campuchia phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và nhiệm vụ quốc phòng-an ninh. Triển khai thực hiện các chương trình hợp tác đầu tư, thương mại, du lịch với một số nước và các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tiếp tục phát huy vai trò của mặt trận, các đoàn thể, tổ chức chính trị-xã hội trong công tác đối ngoại nhân dân ngày càng hiệu quả, đi vào chiều sâu.
3.6- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp trong công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chính sách; chấp hành kỷ luật, kỷ cương. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý giữa tỉnh và cấp huyện, gắn phân cấp với tăng cường kiểm tra, giám sát và tính tự chịu trách nhiệm, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Nâng cao năng lực dự báo, ứng phó và giải quyết có hiệu quả những vấn đề mới phát sinh, đột xuất. Tăng cường kiện toàn tổ chức và đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức đạt chuẩn về trình độ chuyên môn và chính trị, có tính chuyên nghiệp cao, phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức tận tuỵ phục vụ nhân dân. Thường xuyên bồi dưỡng, giáo dục về tinh thần, thái độ, phong cách, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ. Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm đối với cán bộ, công chức.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân. Tiếp tục rà soát và đề nghị bãi bỏ, sửa đổi các thủ tục còn gây phiền hà, khó khăn cho người dân và doanh nghiệp; thực hiện đơn giản hoá thủ tục hành chính, nhất là trong các lĩnh vực liên quan đến nhà đất, cấp giấy phép đầu tư, kinh doanh, xây dựng, giải quyết các yêu cầu của công dân... Công khai, minh bạch các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Định kỳ tổ chức lấy ý kiến góp ý của các doanh nghiệp và người dân về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc có liên quan để có hướng cải cách tốt hơn. Phân tích đánh giá về chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh, có giải pháp tập trung khắc phục các khâu yếu, phấn đấu nâng bậc xếp hạng của tỉnh đến năm 2015 đứng thứ 10/63 tỉnh, thành trong cả nước.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Tổ chức triển khai quán triệt Kết luận số 10-KL/TW ngày 18-10-2011 Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương và Chương trình hành động của Tỉnh ủy trong toàn Đảng bộ. Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ Chương trình hành động của Tỉnh ủy chỉ đạo xây dựng kế hoạch cụ thể hoá về mặt nhà nước và triển khai thực hiện.
2- Các huyện, thị, thành ủy xây dựng chương trình hành động; các đảng ủy trực thuộc theo chức năng, nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 3 (khoá XI) và Chương trình hành động của Tỉnh ủy phù hợp với tình hình của địa phương, đơn vị.
3- Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội, căn cứ Chương trình hành động của Tỉnh ủy có kế hoạch tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân tích cực tham gia các phong trào phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương.
4- Giao Văn phòng Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Ủy nhân dân tỉnh, các cấp, các ngành liên quan theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện; đinh kỳ báo cáo kết quả thực hiện cho Ban Thường vụ, Ban Chấp hành theo dõi, chỉ đạo./-
NGHỊ QUYẾT
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHOÁ XI)
Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay
(Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-01-2012)
______
I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
1- Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Trải qua hơn 80 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, với bản lĩnh của một đảng cách mạng chân chính, dạn dày kinh nghiệm, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng.
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây d
Huỳnh Minh Triết @ 08:26 29/01/2013
Số lượt xem: 297
- Đề cương học chính trị hè (29/01/13)